Luật dân sự

Thế nào là ghi đúng địa chỉ bị đơn trong đơn khởi kiện

ghi địa chỉ bị đơnGhi đúng, đầy đủ địa chỉ bị đơn trong đơn khởi kiện là yêu cầu bắt buộc nếu đương sự muốn vụ việc được Tòa án thụ lý giải quyết. Nếu không thực hiện đúng, Tòa án đã nhận đơn sẽ thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện và trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung.

Vấn đề đặt ra, như thế nào thì được coi là người khởi kiện đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ bị đơn?

Do quy định của luật không nêu rõ nên theo quan điểm của Công ty Luật ICC Việt Nam, sẽ có 2 cách hiểu trong trường hợp này:

Cách hiểu thứ nhất là chỉ cần ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn về mặt hình thức.

Theo cách hiểu này, người khởi kiện chỉ cần xác định địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn là cá nhân, hoặc địa chỉ trụ sở theo đăng ký kinh doanh, đăng ký hoạt động của bị đơn là tổ chức và ghi đúng, đầy đủ vào trong đơn thì được coi là đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ.

Khoản 3 Điều 40 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”. Do vậy, địa chỉ ghi trong hợp đồng, giao dịch giữa hai bên được coi là địa chỉ nơi cư trú hoặc địa chỉ trụ sở cuối cùng của bị đơn nếu không có bất kỳ thông báo nào khác về địa chỉ mới.  

Cách hiểu thứ hai là phải ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn về mặt nội dung.

Theo cách hiểu này, người khởi kiện phải tìm được địa chỉ mà bị đơn cá nhân đang thực tế cư trú hoặc bị đơn tổ chức đang hoạt động tại trụ sở và ghi đúng, đầy đủ vào đơn khởi kiện, kèm theo đó là giấy tờ chứng minh (giấy xác nhận, sổ tạm trú ...vv). Khi thụ lý đơn khởi kiện, một số Tòa án thường hiểu và áp dụng theo cách này. Đây là cách làm không hợp lý, gây khó khăn cho người khởi kiện (thường là bên có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm) khiến nhiều vụ việc dân sự đi vào bế tắc.

Với cách quy định như hiện nay, pháp luật tố tụng dân sự đã vô tình tạo ra lợi thế cho bị đơn, vì bị đơn chỉ cần (vô tình hoặc cố ý) thay đổi địa chỉ mà không thông báo là đã gây khó khăn, cản trở cho bên còn lại khi khởi kiện ngay từ khâu thụ lý.

Để tạo điều kiện cho người khởi kiện, thường là bên có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thực hiện quyền khởi kiện một cách đơn giản nhất, Bộ Luật Tố tụng Dân sự nên thay đổi cách quy định về việc ghi địa chỉ bị đơn trong đơn khởi kiện theo hướng như sau:

- Thứ nhất, vì đây là luật tố tụng (luật hình thức) nên chỉ cần yêu cầu người khởi kiện ghi đúng địa chỉ của bị đơn về mặt hình thức. Theo đó, nguyên đơn tự xác định địa chỉ bị đơn (nơi cư trú, địa chỉ trụ sở) theo quy định của pháp luật và ghi đúng vào đơn khởi kiện, kèm theo là các tài liệu chứng minh việc xác định của nguyên đơn.

- Thứ hai, thay thế khái niệm “bị đơn cố tình giấu địa chỉ” bằng khái niệm “bị đơn vi phạm nghĩa vụ thông báo địa chỉ mới”. Bởi việc chứng minh bị đơn cố tình giấu địa chỉ khó khăn hơn rất nhiều so với việc chứng minh bị đơn vi phạm nghĩa vụ thông báo địa chỉ mới. Việc yêu cầu người khởi kiện phải chứng minh người bị kiện cư trú thực tế hoặc có trụ sở thực tế tại một địa chỉ cụ thể nào đó không khác nào làm khó người khởi kiện.

- Thứ ba, quy định rõ về hậu quả pháp lý mà bị đơn phải chịu nếu vi phạm nghĩa vụ thông báo thay đổi địa chỉ mới của mình, cụ thể: nếu trong quá trình giao dịch, người bị kiện vi phạm nghĩa vụ thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện mà Tòa án xét xử vắng mặt thì phải tự chịu các hậu quả pháp lý bất lợi. Sở dĩ phải quy định như vậy vì để trốn tránh nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch đã xác lập, bị đơn là cá nhân sẽ vi phạm nghĩa vụ thông báo địa chỉ mới theo Khoản 3 Điều 40 Bộ Luật Dân sự 2015 (giấu địa chỉ), còn bị đơn là tổ chức, doanh nghiệp sẽ vi phạm nghĩa vụ đăng ký thay đổi địa chỉ trụ sở chính trong thời hạn quy định (nhưng vẫn kê khai báo cáo thuế bình thường tại địa chỉ trụ sở cũ).

Tin liên quan

Thông tin liên lạc

Phòng 703, tầng 7, số 272 Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội

0978.742.795

icclawfirm@gmail.com