Luật dân sự

Phân biệt yêu cầu phản tố và ý kiến của bị đơn

yêu cầu phản tố và ý kiến bị đơnViệc phân biệt yêu cầu phản tố của bị đơn và ý kiến của bị đơn có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án dân sự.

1. Về ý kiến của bị đơn:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 199 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, bị đơn phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố (nếu có).

Theo hướng dẫn của TAND tối cao thì chỉ coi là ý kiến của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn nếu bị đơn có yêu cầu cùng với yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn).

Ví dụ: Nguyên đơn C có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận quyền sở hữu đối với một xe ô tô và buộc bị đơn D trả lại cho mình xe ô tô đó. Bị đơn D có yêu cầu Toà án không công nhận xe ô tô này thuộc sở hữu của C mà là của mình hoặc công nhận xe ô tô này thuộc sở hữu chung của C và D. Trường hợp này, yêu cầu của bị đơn D không được coi là yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn C.

2. Về yêu cầu phản tố của bị đơn:

Theo Điều 200 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 thì cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Tuy nhiên, yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập chỉ được Tòa án chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.

Như vậy, trong trường hợp bị đơn gửi văn bản nêu ý kiến tới Tòa án thì trước hết Tòa án phải xác định xem đó là yêu cầu phản tố của bị đơn hay chỉ là văn bản ghi ý kiến của bị đơn.

- Trường hợp xác định ý kiến này là yêu cầu phản tố của bị đơn thì Tòa án phải yêu cầu bị đơn nộp tạm ứng án phí và thụ lý, giải quyết yêu cầu phản tố theo thủ tục như đối với yêu cầu của nguyên đơn.

- Trường hợp xác định đây là ý kiến của bị đơn thì Tòa án chỉ cần lưu hồ sơ để xem xét trong quá trình giải quyết vụ án.

Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và ý kiến của bị đơn đối với nguyên đơn trong vụ án.

Tin liên quan

Thông tin liên lạc

Tầng 4, số 11 Vũ Ngọc Phan, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội

0978.742.795

icclawfirm@gmail.com