Luật kinh doanh thương mại

Phân biệt tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh thương mại

phân biệt tranh chấp dân sự và tranh chấp thương mạiÝ nghĩa của việc phân biệt tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh thương mại:

Việc xác định một tranh chấp là tranh chấp dân sự hay tranh chấp kinh doanh thương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ tranh chấp. Nếu xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ dẫn đến áp dụng sai pháp luật nội dung đối với vụ việc.

Ví dụ: trong vụ tranh chấp mà Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng, nếu xác định là tranh chấp dân sự thì Tòa án phải buộc Bị đơn trả lãi bất kể Nguyên đơn có yêu cầu trả lãi hay không. Tuy nhiên, nếu xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại thì Tòa án chỉ buộc Bị đơn trả lãi nếu Nguyên đơn có yêu cầu trả lãi và yêu cầu này được chấp nhận.

Tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh thương mại có thể phân biệt ngắn gọn như sau:

- Tranh chấp dân sự là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể của luật dân sự (cá nhân, pháp nhân) trong quan hệ pháp luật dân sự (về nhân thân và/hoặc tài sản).

- Tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân có đăng ký kinh doanh trong hoạt động thương mại, đầu tư, kinh doanh.

Trong một số trường hợp, việc xác định đâu là tranh chấp dân sự và đâu là tranh chấp kinh doanh thương mại khá phức tạp. Cụ thể:

1. Tranh chấp phát sinh mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận.

Trường hợp này, nếu căn cứ theo Khoản 1 Điều 30 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 thì đây được xác định là tranh chấp dân sự vì một bên hoặc các bên thiếu điều kiện về chủ thể là có đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, việc xác định như vậy có phần không hợp lý vì các lý do sau:

- Việc một bên hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan như: chưa kịp tiến hành đăng ký kinh doanh; đã tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp hoặc bị từ chối cấp; cố ý vi phạm nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân.

Điều 7 Luật thương mại 2005 quy định về nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân: “Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật”. Như vậy, việc một bên hoặc các bên không/chưa có đăng ký kinh doanh khi giao dịch không làm loại trừ trách nhiệm phát sinh từ giao dịch.

- Các bên trong tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận. Ý chí của các bên khi tham gia giao dịch đều nhằm mục tiêu lợi nhuận nên dù không có đăng ký kinh doanh, họ đều hiểu và chấp nhận những quy tắc của giao dịch thương mại.

- Việc xác định loại tranh chấp này là tranh chấp kinh doanh thương mại phù hợp với hướng dẫn tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán: Toà kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 và Điều 30 của BLTTDS; các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận

2. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các bên đều có mục đích lợi nhuận mà chỉ một bên có đăng ký kinh doanh, bên còn lại có các loại giấy tờ pháp lý khác không phải là đăng ký kinh doanh như: Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, Giấy phép thành lập và hoạt động.

Đây là trường hợp mà bên không có đăng ký kinh doanh được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Trong các trường hợp này, việc xác định loại tranh chấp cần căn cứ vào quy định tương ứng tại các văn bản pháp luật khác.

Ví dụ 1: tranh chấp phát sinh giữa Tổ chức hành nghề luật sư (có Giấy đăng ký hoạt động) với khách hàng là Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp (có đăng ký kinh doanh) trong việc cung ứng dịch vụ thì đây xác định là tranh chấp dân sự theo Khoản 1 Điều 59 Luật Luật sư.

Ví dụ 2: tranh chấp phát sinh liên quan đến Hợp đồng BOT (Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao) giữa Nhà đầu tư là Doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh và Cơ quan có thẩm quyền (Bộ, UBND) được xác định là tranh chấp thương mại theo quy định tại Khoản 4 Điều 63 Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Nghị định này quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài theo quy định tại hợp đồng dự án và các hợp đồng liên quan là tranh chấp thương mại”. Ngoài ra, cần lưu ý là cũng tồn tại một số ít loại hình tổ chức đặc thù vừa có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động vừa có đăng ký kinh doanh.

3. Tranh chấp mà một bên không có mục đích lợi nhuận nhưng chọn áp dụng Luật Thương mại.

Khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại quy định phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại bao gồm cả “hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này”.

Như vậy, nếu bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng Luật Thương mại thì liệu có thể xác định tranh chấp này là tranh chấp kinh doanh thương mại và áp dụng Luật Thương mại để giải quyết hay không?

Thông tin liên lạc

Phòng 703, tầng 7, số 272 Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội

0978.742.795

icclawfirm@gmail.com